Ngày 2/10/2024, tại Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN đã diễn ra hội thảo khoa học "Thảm họa Làng Nủ - Nguyên nhân và giải pháp phòng tránh". Hội thảo thu hút đông đảo nhà khoa học, sinh viên, học viên cao học và những người quan tâm tham dự.

Các nhà khoa học tìm nguyên nhân và giải pháp phòng tránh ẩn họa tương tự làng Nủ

PGS. TS. Nguyễn Châu Lân (Đại học Giao thông vận tải) đang trình bày báo cáo “Kết quả khảo sát và nhận định ban đầu về nguyên nhân thảm họa Làng Nủ và một số khu vực trọng điểm tỉnh Lào Cai”.

Dựa trên kết quả khảo sát, PGS. TS. Nguyễn Châu Lân (Đại học Giao thông vận tải) và TS. Đỗ Tuấn Nghĩa (Đại học Thủy lợi) cùng nhóm nghiên cứu đưa ra nhận định ban đầu về nguyên nhân thảm họa Làng Nủ và một số khu vực trọng điểm tỉnh Lào Cai: Lượng mưa giờ và lượng mưa tích lũy trong 3 ngày bão Yagi quá lớn gây trượt lở khối lớn, tích tụ vật liệu vào đoạn co hẹp tạo đập tạm thời và vỡ, thời điểm khoảng 6h sáng 10/9; Đá phiến phong hóa mạnh, cường độ không cao và tầng phong hóa dày gây trượt lở khối lớn; Thời gian dòng lũ bùn đá tràn và mở rộng xuống vùng quạt bên dưới (phạm vi ảnh hưởng lớn nhất) nhanh; Vận tốc dòng chảy quá lớn, kèm bùn đá, đất gây phá hủy nhà cửa. 

Các nhà khoa học tìm nguyên nhân và giải pháp phòng tránh ẩn họa tương tự làng Nủ

GS.TS Đỗ Minh Đức, Khoa Địa chất, Trường ĐHKHTN -ĐHQGHN đang trình bày báo cáo “Phát hiện sớm và phòng tránh ẩn họa tương tự Làng Nủ ở các khu vực miền núi Việt Nam”.

GS.TS Đỗ Minh Đức và nhóm nghiên cứu bộ môn Địa kỹ thuật và Phát triển hạ tầng, Khoa Địa chất, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN cho biết: “Khu vực có điều kiện địa hình, địa chất và đặc điểm phân bố dân cư tương tự như Làng Nủ không phải là cá biệt, mà ngược lại, khá phổ biến ở khu vực miền núi Việt Nam”. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra cảnh báo về các dạng thiên tai trên đất dốc cần lưu ý: (1) Trượt đất đá quy mô lớn, (2) Lũ bùn đá, (3) Lũ quét, (4) Lũ bùn đá, lũ quét do nghẽn dòng. 

Về phòng tránh trượt đất đá quy mô lớn, GS.TS Đỗ Minh Đức cho rằng: Khối trượt lớn chỉ xảy ra khi có biến dạng lớn (dấu hiệu tiên quyết là khe nứt tách trên sườn dốc). Việc rà soát khe nứt cần thường xuyên bằng phương pháp thủ công hoặc flycam,… Cần lưu ý, một số khe nứt sẽ không dẫn ngay đến trượt lở. Các hoạt động trên đất dốc có thể xóa nhòa dấu vết của khe nứt, nhưng một khi đã xuất hiện khe nứt, mái dốc sẽ không thể tự “liền lại” được nữa và nguy cơ trượt lở luôn tiềm ẩn. Bên cạnh taluy đường giao thông, nhà ở, các mái dốc rừng sản xuất đã qua một vài lần khai thác và trồng lại hoặc có hoạt động trên mái dốc như xây dựng công trình, tháp viễn thông, đường dây tải điện… đều cần được lưu ý.

Các nhà khoa học tìm nguyên nhân và giải pháp phòng tránh ẩn họa tương tự làng Nủ

Hội thảo thu hút nhiều nhà khoa học tham dự.

Về phòng tránh lũ bùn đá, GS.TS Đỗ Minh Đức và nhóm nghiên cứu đưa ra quan điểm: Khối trượt lớn xảy ra lân cận sông, suối, đất, đá tràn vào, kết hợp với năng lượng dòng chảy hiện có, dịch chuyển nhanh, mạnh, phạm vi tác động và khả năng gây thiệt hại sẽ rất lớn. Vì vậy, cần chủ động rà soát dọc các suối nhánh, dòng chảy phát hiện đoạn nghẽn dòng; phát huy vai trò của các cán bộ cơ sơ thôn, bản, tổ, đội thanh niên xung kích phòng tránh thiên tai. Lưu ý, trên một dòng chảy có thể có một hay nhiều điểm nghẽn.

Các nhà khoa học tìm nguyên nhân và giải pháp phòng tránh ẩn họa tương tự làng Nủ

Quang cảnh hội thảo.

Để theo dõi mưa lớn, có thể sử dụng ứng dụng Windy và VRAIN; theo dõi nguy cơ sạt lở từ http://luquetsatlo.nchmf.gov.vn/. Ngoài ra có thể cảnh báo theo thời gian thực, triển khai theo email, ứng dụng di động, tin nhắn SMS.

GS.TS. Đỗ Minh Đức và nhóm nghiên cứu đã đưa ra giải pháp tổng thể kết hợp cả trước mắt, trung và dài hạn để phòng tránh thảm họa tương tự làng Nủ như sau: 

Giải pháp trước mắt (chủ động ứng phó): Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu, thành lập hệ thống bản đồ các tỷ lệ, từ đó khoanh định được các khu vực có rủi ro cao. Lưu ý các loại hình trượt lở, lũ quét khác nhau. Bản đồ, cơ sở dữ liệu các đối tượng chịu tác động về tự nhiên, nhân sinh. Xây dựng bản đồ rủi ro và các kịch bản ứng phó phục vụ quản lý, kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn với thiên tai trên các vùng đất dốc

Mưa là yếu tố chủ yếu kích hoạt trượt lở. Các hệ thống quan trắc mưa hiện tại cần có mật độ cao hơn; phát hiện sớm mưa lớn cực đoan; Các hệ thống quan trắc chuyên sâu về ổn định mái dốc; nâng cao độ chính xác công tác dự báo qua ứng dụng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo;  Tăng cường truyền thông thông tin cảnh báo sớm, đảm bảo chính quyền các cấp, đặc biệt là người dân trong vùng bị tác động của trượt lở nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác và hiểu rõ các hành động cần triển khai khi có yêu cầu.

Cảnh báo và hành động sớm: Khi rủi ro trượt lở đạt đến mức rủi ro cấp 1 theo nghị định của Chính phủ, chính quyền địa phương cần hạn chế người và phương tiện lưu thông lân cận các khu vực nguy cơ cao, tới rủi ro cấp 2 và cao hơn, cần cấm các phương tiện lưu thông qua các khu vực nguy cơ cao; di chuyển dân trong khu vực nguy cơ cao đến nơi an toàn và chỉ quay lại khi không còn cảnh báo nguy cơ trượt lở.

Phát huy hiệu quả vai trò của các cán bộ cơ sở xã, thôn, các tổ đội xung kích phòng tránh thiên tai, như phát hiện sớm các dấu hiệu trượt lở, lũ quét. Chính quyền và người dân cần chú ý đến tính bất thường và cực đoan của thời tiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuẩn bị kịch bản ứng phó với những tình huống khó khăn nhất.

Các giải pháp trung hạn: Ưu tiên đảm bảo an toàn các khu vực tập trung dân cư. Kiểm soát được tác động tiêu cực của nước mưa và nước mặt: thu thoát nước mưa, nước mặt để giảm tải tác động nhân sinh lên đất dốc, trong một số trường hợp cần có cả thoát nước ngầm. Bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn Xây dựng quy trình, hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, thủy điện,… trong vùng có rủi ro trượt lở. 

Các giải pháp dài hạn: Xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển tổng thể các vùng đất dốc (Slope Master Plan) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực các ngành Khoa học Trái đất.

Các nhà khoa học tìm nguyên nhân và giải pháp phòng tránh ẩn họa tương tự làng Nủ

Đại biểu tham dự thảo luận, đặt câu hỏi cho các nhóm nghiên cứu.

Sau phần trình bày của hai nhóm nghiên cứu, các đại biểu tham dự cùng thảo luận vấn đề dưới nhiều khía cạnh chuyên môn sâu. Các ý kiến thảo luận, đóng góp của đại biểu đã gợi mở nhiều góc nhìn khoa học, là tiền đề cho các hướng nghiên cứu mới nhằm phòng tránh thảm họa thiên tai, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.